10 hành vi bị coi là trốn thuế từ 1/7/2026: Phân tích chi tiết, ví dụ từng trường hợp

10 hành vi bị coi là trốn thuế từ 1/7/2026: Phân tích chi tiết và ví dụ từng trường hợp

Từ 01/7/2026, Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15 chính thức có hiệu lực và quy định rõ các hành vi bị coi là trốn thuế ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2026. Tại khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, có 10 nhóm hành vi bị coi là trốn thuế khi làm thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn. Danh mục 10 hành vi này hiện đang được các nguồn pháp lý tổng hợp thống nhất theo đúng nội dung luật.

Bài viết dưới đây sẽ phân tích lần lượt từng hành vi, diễn giải theo ngôn ngữ dễ hiểu, kèm ví dụ thực tế để doanh nghiệp, hộ kinh doanh, kế toán và cá nhân kinh doanh dễ hình dung. Một câu nói gọn mà đau: không phải cứ sai là trốn thuế, nhưng đã cố tình làm sai để giảm thuế thì rất dễ đi từ “sơ suất” sang “rắc rối”.

1) Căn cứ pháp lý và thời điểm áp dụng

Căn cứ chính của bài viết là Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15. Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, luật được ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2026. Đồng thời, các bài tổng hợp pháp lý đều xác nhận rằng 10 hành vi bị coi là trốn thuế được quy định tại khoản 4 Điều 45 của luật này.

Điểm cần lưu ý là quy định mới về các hành vi bị coi là trốn thuế về cơ bản không thay đổi lớn về bản chất so với quy định đang áp dụng tại Điều 143 Luật Quản lý thuế 2019, nhưng từ 01/7/2026 thì việc viện dẫn căn cứ pháp lý sẽ chuyển sang Luật Quản lý thuế 2025.

2) Danh sách 10 hành vi bị coi là trốn thuế từ 1/7/2026

Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, 10 hành vi bị coi là trốn thuế gồm:

  1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn hoặc hết hạn gia hạn, dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn.
  2. Không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
  3. Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế.
  4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào hoặc làm giảm số tiền thuế phải nộp, tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn.
  5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số thuế phải nộp hoặc số thuế được miễn, giảm, hoàn.
  6. Khai sai thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không tự nguyện khai bổ sung sau thông quan.
  7. Cố ý không kê khai hoặc kê khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
  8. Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
  9. Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng.
  10. Kinh doanh trong thời gian đã thông báo ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động nhưng không thông báo với cơ quan thuế.

3) Phân tích chi tiết 10 hành vi bị coi là trốn thuế và ví dụ minh họa

3.1. Không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế, hoặc nộp quá 90 ngày

Đây là hành vi đứng đầu danh sách vì nó đụng ngay “cửa vào” của quản lý thuế: đăng ký, kê khai và nộp hồ sơ đúng hạn. Tuy nhiên, điểm mấu chốt không chỉ là chậm nộp, mà là việc không nộp hoặc nộp quá 90 ngày phải dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn thì mới bị coi là trốn thuế theo khoản 4 Điều 45.

Pháp luật hiện hành cũng phân biệt khá rõ giữa vi phạm thủ tục thuế và trốn thuế. Trường hợp không nộp hồ sơ hoặc nộp chậm trên 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp, hoặc có phát sinh số thuế phải nộp nhưng người nộp thuế đã nộp đủ tiền thuế, tiền chậm nộp trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra/thanh tra hay trước khi lập biên bản, thì không xử phạt theo diện trốn thuế mà xử lý theo nhóm vi phạm thủ tục.

Ví dụ:
Một hộ kinh doanh phát sinh doanh thu chịu thuế trong quý III/2026 nhưng không nộp tờ khai thuế, cũng không nộp tiền thuế. Đến tháng thứ 4 sau hạn nộp, cơ quan thuế kiểm tra phát hiện số thuế phải nộp còn thiếu. Trường hợp này có thể bị xem là hành vi trốn thuế.
>Ngược lại, nếu doanh nghiệp nộp chậm hồ sơ hơn 90 ngày nhưng đã chủ động nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp trước thời điểm bị công bố quyết định kiểm tra, thì rủi ro chuyển sang nhóm xử phạt thủ tục thuế, không mặc định là trốn thuế.

Bản chất pháp lý cần hiểu: chậm hồ sơ chưa chắc là “trốn”, nhưng chậm hồ sơ để né nộp thuế thì cơ quan thuế nhìn rất khác. Khác nhau ở hậu quả thuế và ý chí che giấu nghĩa vụ.


3.2. Không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp

Hành vi này thường gặp ở doanh nghiệp, hộ kinh doanh có sổ sách hoặc hệ thống quản trị doanh thu nhưng cố tình “để ngoài sổ” một phần doanh thu, một phần tiền bán hàng hoặc khoản thu khác có liên quan đến nghĩa vụ thuế. Theo quy định, chỉ cần các khoản thu đó liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp mà không được ghi chép, ghi nhận đúng, thì đã chạm vùng nguy hiểm.

Đây không chỉ là lỗi kế toán. Nếu việc không ghi nhận làm giảm doanh thu tính thuế hoặc làm sai căn cứ xác định nghĩa vụ thuế, cơ quan quản lý có thể xem đó là hành vi trốn thuế.

Ví dụ:
Một công ty bán hàng qua 2 kênh: chuyển khoản và tiền mặt. Kế toán chỉ ghi nhận doanh thu chuyển khoản trên phần mềm, còn doanh thu tiền mặt thu trực tiếp tại cửa hàng lại theo dõi riêng trong file nội bộ và không đưa vào sổ kế toán. Khi quyết toán, phần doanh thu tiền mặt không được kê khai thuế GTGT và thuế TNDN. Đây là tình huống rất điển hình của hành vi không ghi nhận khoản thu để làm giảm số thuế phải nộp.

Điểm thực tế cần cảnh giác:
Thời số hóa rồi mà còn nghĩ “tiền mặt không ai biết” thì hơi lạc quan quá mức. Dữ liệu bán hàng, vận đơn, sao kê, tin nhắn chốt đơn, phần mềm POS, đối soát sàn TMĐT… đều có thể trở thành chuỗi chứng cứ.


3.3. Không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trên hóa đơn thấp hơn thực tế

Đây là hành vi rất phổ biến ngoài thực tế và cũng là nhóm dễ bị phát hiện nhất. Khoản 4 Điều 45 xác định rõ: không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định, hoặc ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế, là hành vi bị coi là trốn thuế.

Bản chất của hành vi này là làm giảm doanh thu tính thuế. Khi doanh thu bị ghi thấp hơn thực tế, các sắc thuế tính trên doanh thu hoặc lợi nhuận đều có thể bị ảnh hưởng. Với hộ kinh doanh, doanh thu thấp hơn thực tế còn có thể làm sai ngưỡng, sai kỳ kê khai, sai căn cứ tính thuế.

Ví dụ 1:
Cửa hàng bán máy lạnh cho khách giá thanh toán thực tế là 15 triệu đồng, nhưng chỉ xuất hóa đơn 8 triệu đồng, còn 7 triệu đồng nhận tiền mặt ngoài hóa đơn. Phần 7 triệu đó chính là doanh thu bị che giấu.

Ví dụ 2:
Nhà hàng bán cho khách lẻ nhưng không xuất hóa đơn, chỉ in phiếu tạm tính rồi thu tiền. Nếu doanh thu này không được kê khai đầy đủ, hành vi có thể bị quy sang trốn thuế chứ không chỉ dừng ở vi phạm hóa đơn.

Lưu ý:
Nhiều đơn vị hay tự an ủi rằng “khách không lấy hóa đơn”. Câu này nghe quen, nhưng pháp luật không vì khách lười mà tha cho người bán. Nghĩa vụ lập hóa đơn thuộc về bên bán khi đáp ứng điều kiện theo quy định.


3.4. Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng hóa đơn không hợp pháp để hạch toán đầu vào, làm giảm số thuế phải nộp

Đây là nhóm hành vi liên quan đến hóa đơn đầu vào: dùng hóa đơn giả, hóa đơn mua bán khống, hóa đơn của giao dịch không có thật, hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để hợp thức chi phí, tăng khấu trừ, tăng hoàn thuế, giảm thuế phải nộp. Khoản 4 Điều 45 xếp rõ hành vi này vào nhóm bị coi là trốn thuế.

Bản chất ở đây là người nộp thuế tạo ra một “chiếc áo pháp lý giả” cho chi phí hoặc hàng hóa đầu vào. Sổ sách thì đẹp hơn, báo cáo thì lời ít đi, thuế phải nộp cũng teo lại. Nhưng khi cơ quan thuế đối chiếu chéo dữ liệu hóa đơn điện tử, hợp đồng, thanh toán, vận chuyển, kho bãi, nhân sự thực hiện… thì cái áo đó rất dễ rách.

Ví dụ:
Doanh nghiệp A thực tế không mua nguyên liệu từ Công ty B, nhưng mua hóa đơn của B trị giá 2 tỷ đồng để tăng chi phí đầu vào và khấu trừ thuế GTGT. Giao dịch hàng hóa không có thật, thanh toán lòng vòng, không có chứng từ vận chuyển, không có biên bản giao nhận. Đây là tình huống điển hình của việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.

Điểm cần nhớ:
“Hóa đơn có file XML” chưa chắc là hóa đơn hợp pháp. Có file không đồng nghĩa có thật. Nhiều người nhầm chỗ này rồi trả giá bằng tiền phạt rất thật.


3.5. Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất hoặc giá trị giao dịch thực tế

Hành vi này rộng hơn hóa đơn. Nó bao phủ cả các loại chứng từ, hợp đồng, phụ lục, biên bản, bảng kê, hồ sơ nội bộ nếu các tài liệu đó không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế mà được dùng để xác định sai nghĩa vụ thuế.

Nói nôm na: không phải cứ có bộ hồ sơ dày là an toàn. Nếu bộ hồ sơ đó dựng lên một giao dịch “giống thật” nhưng không phải thật, hoặc biến giao dịch thật thành một giao dịch khác có lợi hơn về thuế, thì vẫn có thể bị coi là trốn thuế.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp ký hợp đồng “dịch vụ tư vấn chiến lược” với bên liên quan trị giá 1,5 tỷ đồng nhưng thực tế không có bất kỳ sản phẩm tư vấn, báo cáo, email, đầu việc hay nhân sự thực hiện nào. Hồ sơ chỉ nhằm đẩy chi phí lên để giảm thuế TNDN.

Ví dụ 2: Hai bên thực tế là mua bán hàng hóa, nhưng lại làm bộ hồ sơ thành “hỗ trợ marketing”, “chiết khấu thương mại đặc biệt” hoặc “phí dịch vụ” để thay đổi cách tính thuế.

Điểm mấu chốt:
Cơ quan thuế ngày càng đánh vào bản chất giao dịch, không chỉ nhìn tên giấy tờ. Đổi cái nhãn không đổi được bản chất.


3.6. Khai sai thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không tự nguyện khai bổ sung sau thông quan

Nhóm này áp dụng nhiều với hoạt động hải quan, xuất nhập khẩu. Theo quy định, nếu người nộp thuế khai sai thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không tự nguyện khắc phục bằng cách nộp đủ thuế, thì có thể bị coi là trốn thuế.

“Khai sai thực tế hàng hóa” có thể là sai về tên hàng, mã hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, chất lượng, tình trạng hàng, xuất xứ hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến mức thuế phải nộp.

Ví dụ: Doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện điện tử có mức thuế cao nhưng khai thành nhóm hàng có thuế suất thấp hơn. Sau khi hàng thông quan, doanh nghiệp vẫn không chủ động khai bổ sung dù biết sai. Khi cơ quan hải quan hậu kiểm phát hiện, hành vi này có thể bị xác định là trốn thuế.

Ý nghĩa pháp lý:
Pháp luật vẫn chừa cho người nộp thuế một cánh cửa là tự nguyện khai bổ sung, khắc phục. Nhưng nếu đã biết sai mà vẫn im lặng, thì sự im lặng đó nói hộ khá nhiều điều.


3.7. Cố ý không kê khai hoặc kê khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Nếu mục 6 nhấn vào “khai sai thực tế hàng hóa”, thì mục 7 nhấn mạnh vào yếu tố cố ý trong việc không kê khai hoặc kê khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là nhóm hành vi có tính chủ động cao hơn, thể hiện ý chí né thuế rõ hơn.

Ví dụ: Doanh nghiệp biết lô hàng nhập khẩu thuộc diện phải nộp thuế bảo vệ môi trường hoặc thuế nhập khẩu theo mức nhất định nhưng cố ý không kê khai khoản thuế đó trong hồ sơ hải quan để giảm nghĩa vụ thuế.

Ví dụ khác: Kê khai sai mã HS nhiều lần theo cùng một hướng có lợi cho doanh nghiệp, dù đã được cơ quan hải quan hướng dẫn hoặc cảnh báo trước đó. Trường hợp này rất khó giải thích là “nhầm”.

Lưu ý: Sai một lần có thể còn tranh luận. Sai có hệ thống, sai lặp đi lặp lại, sai toàn theo hướng có lợi cho mình thì cơ quan quản lý thường không xem đó là ngẫu nhiên.


3.8. Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế

Đây là hành vi mang tính thông đồng. Luật không chỉ nhìn vào doanh nghiệp trong nước mà còn nhắm tới việc cấu kết với bên gửi hàng, nhà cung cấp, đối tác nước ngoài để làm sai hồ sơ nhập khẩu nhằm trốn thuế.

Hành vi “cấu kết” có thể thể hiện qua việc cùng thống nhất khai giá thấp hơn thực tế, tách bộ chứng từ, làm sai mô tả hàng hóa, khai sai số lượng, khai quà biếu/tài trợ trong khi thực tế là hàng mua bán thương mại.

Ví dụ: Doanh nghiệp nhập khẩu máy móc trị giá thực tế 200.000 USD nhưng thống nhất với người bán chỉ ghi invoice 120.000 USD để giảm trị giá tính thuế. Phần chênh lệch thanh toán qua kênh khác. Đây là ví dụ rất rõ của hành vi cấu kết nhập khẩu để trốn thuế.

Bài học: Hồ sơ quốc tế không làm hành vi hợp pháp hơn. Sai ở trong nước hay sai xuyên biên giới thì vẫn là sai, chỉ có điều hồ sơ xuyên biên giới thường khiến vụ việc đắt hơn và mệt hơn.


3.9. Sử dụng hàng hóa miễn thuế, không chịu thuế, xét miễn thuế sai mục đích mà không khai báo

Đây là nhóm hành vi hay bị bỏ sót trong thực tế. Nhiều đơn vị nghĩ rằng được miễn thuế lúc nhập vào là xong chuyện. Không hẳn. Nếu hàng hóa thuộc diện không chịu thuế, miễn thuế hoặc xét miễn thuế mà sau đó được sử dụng không đúng mục đích, đồng thời không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, thì có thể bị coi là trốn thuế.

Ví dụ: Doanh nghiệp nhập khẩu máy móc theo diện ưu đãi miễn thuế để phục vụ dự án ưu đãi đầu tư. Sau đó doanh nghiệp đem bán lại máy móc này hoặc chuyển sang dùng cho hoạt động thông thường không còn đáp ứng điều kiện miễn thuế, nhưng không khai báo với cơ quan quản lý để thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh. Đây là hành vi có rủi ro rất lớn.

Ví dụ gần gũi hơn: Nguyên liệu nhập khẩu theo diện miễn thuế để sản xuất xuất khẩu nhưng lại đưa sang tiêu thụ nội địa mà không khai báo, không nộp thuế tương ứng.

Điểm mấu chốt: Ưu đãi thuế giống như “vé ưu tiên có điều kiện”. Dùng đúng mục đích thì ổn, đổi đường mà không báo thì rất dễ thành vấn đề.


3.10. Kinh doanh trong thời gian đã ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động nhưng không thông báo với cơ quan thuế

Khoản 4 Điều 45 còn liệt kê hành vi kinh doanh trong thời gian đã ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động nhưng không thông báo với cơ quan thuế là hành vi bị coi là trốn thuế.

Bản chất của hành vi này là người nộp thuế tạo ra trạng thái “đang nghỉ” trên hồ sơ quản lý nhưng ngoài thực tế vẫn tiếp tục bán hàng, cung cấp dịch vụ, phát sinh doanh thu. Khi đó, cơ quan thuế có thể bị che khuất thông tin về hoạt động thực tế và nghĩa vụ thuế phát sinh.

Ví dụ: Một hộ kinh doanh gửi thông báo tạm ngừng từ tháng 8/2026 đến hết năm. Tuy nhiên trong thời gian này hộ vẫn bán hàng online đều đặn, nhận tiền chuyển khoản, giao hàng mỗi ngày và không kê khai phần doanh thu phát sinh. Đây là tình huống rất dễ bị xác định là hành vi kinh doanh trong thời gian ngừng/tạm ngừng mà không thông báo với cơ quan thuế.

Lưu ý thực tế: Thời bán hàng qua Facebook, Zalo, sàn TMĐT, ship COD, chuyển khoản cá nhân… việc “đóng cửa trên giấy nhưng vẫn bán đều” không còn là bí mật khó phát hiện nữa.


4) Một số lưu ý rất quan trọng để tránh bị quy vào hành vi trốn thuế

Thứ nhất, không phải mọi sai sót đều là trốn thuế

Pháp luật phân biệt giữa khai sai, chậm nộp hồ sơ, vi phạm thủ tục và trốn thuế. Chẳng hạn, có trường hợp nộp hồ sơ khai thuế quá 90 ngày nhưng vẫn không bị xử lý theo diện trốn thuế nếu không phát sinh số thuế phải nộp hoặc đã nộp đủ tiền thuế, tiền chậm nộp trước thời điểm bị kiểm tra, lập biên bản.

Thứ hai, yếu tố “dẫn đến thiếu thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn” là cực kỳ quan trọng

Danh sách 10 hành vi tại khoản 4 Điều 45 không phải chỉ để mô tả hình thức vi phạm. Điểm chung là các hành vi này phải gắn với hậu quả thuế: làm thiếu thuế phải nộp hoặc làm tăng phần được miễn, giảm, hoàn.

Thứ ba, dữ liệu điện tử khiến việc che giấu ngày càng khó

Hóa đơn điện tử, dữ liệu ngân hàng, dữ liệu sàn thương mại điện tử, vận đơn, phần mềm bán hàng, dữ liệu hải quan, đối chiếu chéo giữa bên mua và bên bán… khiến những hành vi từng “lách được” ngày trước giờ dễ bị soi hơn nhiều. Đây là một xu hướng thực thi được nhiều đơn vị tư vấn pháp lý đánh giá là trọng tâm của Luật Quản lý thuế 2025.

Thứ tư, doanh nghiệp và hộ kinh doanh nên tự rà soát ngay từ bây giờ

Vì luật có hiệu lực từ 01/7/2026, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh nên tự kiểm tra các điểm sau: doanh thu đã ghi nhận đủ chưa, hóa đơn đầu ra có đầy đủ không, hóa đơn đầu vào có hợp pháp không, giao dịch có đúng bản chất không, hồ sơ tạm ngừng có đúng thực tế không, hàng miễn thuế có đang dùng đúng mục đích không, và có khoản doanh thu nào đang “để ngoài hệ thống” hay không. Càng rà soát sớm, càng đỡ đau đầu về sau.


5) Kết luận

Từ 01/7/2026, người nộp thuế cần đặc biệt lưu ý 10 hành vi bị coi là trốn thuế theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Trong đó, các rủi ro phổ biến nhất ngoài thực tế thường rơi vào 4 nhóm: không kê khai hoặc nộp chậm để né thuế, bỏ ngoài sổ kế toán doanh thu, không xuất hóa đơn hoặc xuất thấp hơn thực tế, và dùng hồ sơ đầu vào/giao dịch không đúng bản chất để giảm thuế.

Nói thẳng một câu cho dễ nhớ: đã bán thì phải ghi nhận, đã thu tiền thì phải kê khai, đã có giao dịch thì hồ sơ phải phản ánh đúng bản chất. Làm đúng từ đầu luôn rẻ hơn rất nhiều so với giải trình về sau.


CTA

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc kế toán đang muốn rà soát rủi ro về hóa đơn điện tử, kê khai thuế, doanh thu đầu ra, hồ sơ đầu vào trước khi bước sang giai đoạn áp dụng Luật Quản lý thuế 2025, nên xây dựng ngay checklist kiểm tra nội bộ theo từng nhóm hành vi nêu trên để tránh bị quy vào hành vi trốn thuế hoặc sử dụng Giải pháp quản lý rủi ro hóa đơn mSMI Tự động thu thập hóa đơn đầu vào đầu ra.


FAQ

1. Từ khi nào 10 hành vi bị coi là trốn thuế theo Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực?
Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

2. Không xuất hóa đơn khi bán hàng có bị coi là trốn thuế không?
Có thể. Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định hoặc ghi giá trên hóa đơn thấp hơn thực tế là hành vi bị coi là trốn thuế.

3. Chậm nộp hồ sơ khai thuế trên 90 ngày có chắc chắn là trốn thuế không?
Không phải mọi trường hợp đều bị xử lý là trốn thuế. Nếu không phát sinh số thuế phải nộp hoặc đã nộp đủ tiền thuế, tiền chậm nộp trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản thì có thể bị xử lý theo nhóm vi phạm thủ tục thuế.

4. Dùng hóa đơn đầu vào không hợp pháp để tăng chi phí có bị coi là trốn thuế không?
Có. Đây là một trong các hành vi bị coi là trốn thuế nếu việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được miễn, giảm, hoàn.